Top 10 kiệt tác để đời của Hãng sản xuất phim Studio Ghibli

21:09 |


Hãng Studio Ghibli được thành lập năm 1985 bởi Hayao Miyazaki và Isao Takahata. Đến nay trải qua 29 năm thành lập, Studio Ghibli là hãng phim sản xuất anime nổi tiếng nhất của Nhật Bản và góp một phần quan trọng đưa anime vươn ra tầm thế giới. Cách đây vài ngày, thông tin hãng phim Disney của châu Á sẽ đóng cửa làm tan nát bao trái tim người hâm mộ.
Các anime do Studio Ghibli sản xuất không chỉ đạt thành công về chỉ số thương mại mà còn về chất lượng nghệ thuật và truyền tải những nội dung ý nghĩa sâu sắc. Cùng Một Thế Giới điểm lại 10 bộ anime hay nhất của hãng khiến hàng triệu người điên đảo:
1: Sprited Away (2001)
Spirited Away (Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn) được xem là bộ anime thành công nhất của Ghibli khi là phim anime đầu tiên trong lịch sử nước Nhật giành được giải Gấu vàng tại Liên hoan phim Berlin và một giải Oscar cho Phim hoạt hình hay nhất năm. Hơn thế, Spirited Away cũng là phim Anime có doanh thu cao nhất của Nhật từ trước tới giờ khi đạt 275 triệu USD toàn cầu.
Phim được chính Hayao Miyazaki chấp bút và đạo diễn. Mở đầu câu chuyện là chuyến đi đến nhà mới của Chihiro, cô bé rất buồn vì phải xa bạn bè, trường lớp cũ. Cha của Chihiro rẽ vào con đường tắt dẫn đến cánh cổng đầy rêu phong. Linh cảm thấy điều không hay Chihiro ngăn cản bố mẹ mình bước vào đó nhưng với tính tò mò, cha Chihiro đã dẫn cả nhà vào thăm quan một lúc. Chính sự tò mò ấy đã dẫn đến rất nhiều chuyện không may cho gia đình và bản thân Chihiro…..



2: Grave of the Fireflies (1988)
Giống như Spirited Away, Căn hầm đom đóm của Ghibli liên tục được các nhà phê bình khắp thế giới đua nhau khen ngợi bởi tính nhân văn của nó. Nhà nghiên cứu lịch sử hoạt hình Ernest Rister đã so sánh bộ phim này với tác phẩm của đạo diễn Steven Spielberg, bộ phim Schindler’s List và nói rằng: "Đây là bộ phim hoạt hình nhân bản nhất mà tôi được xem".
Phim được chính Isao Takahata chấp bút và đạo diễn. Phim lấy bối cảnh cuối Thế chiến thứ 2 ở Nhật Bản, bộ phim kể lại câu chuyện chua xót nhưng cảm động về tình anh em của hai đứa trẻ mồ côi Seita và cô em gái là Setsuko. Hai anh em mất mẹ sau cuộc thả bom dữ dội của không quân Mỹ vào thành phố Kobe trong khi cha của hai đứa bé đang chiến đấu cho Hải quân hoàng gia Nhật.
Vì vậy Seita và Setsuko phải vật lộn để tồn tại giữa một bên là nạn đói và một bên là sự thờ ơ đến nhẫn tâm của những người xung quanh (trong đó có cả những người họ hàng của hai đứa trẻ). Cuối cùng, Seita bất lực nhìn em Setsuko chết vì suy dinh dưỡng, những hình vẽ miêu tả sự đau đớn và cái chết của cô bé có thể coi là những cảnh phim bi thương nhất trong lịch sử hoạt hình Nhật Bản.




3: My Neighbour Totoro (1988)
“Hàng xóm của tôi là Totoro” là bộ phim đã giành được giải Animage Anime Grand Prix và Mainichi Film Award cho Phim xuất sắc nhất vào năm 1988. Không phải ngẫu nhiên mà Ghibli chọn hình ảnh Totoro làm biểu tượng cho hãng. Nhân vật đáng yêu này, đã trở thành một biểu tượng cho phong cách làm phim hoạt hình sáng tạo, đáng yêu và đầy nhân văn. Bộ phim có sức lan tỏa mãnh liệt và gắn liền với kí ức tuổi thơ của nhiều khán giả.
Gia đình Kusakabe chuyển về vùng thôn quê sinh sống. Căn nhà mới mà họ sắp ở dân làng đồn đại là bị ma ám. Nhưng điều ấy chẳng làm lay chuyển nỗi tò mò, hiếu động của hai chị em nhà Kusakabe: Satsuki và Mei. Tại ngôi nhà mới, Satsuki và Mei kết thân với bà hàng xóm tốt bụng tên Nanny và cậu bé Kanta, cùng tuổi với Satsuki. Trong một lần chạy chơi vào khu rừng gần nhà, cô em gái Mei mới 4 tuổi đã tình cờ gặp gỡ con thú khổng lồ, vị chúa tể của khu rừng là Totoro.


4: Laputa Castle in the Sky (1986)
Đây là bộ phim đầu tiên mà hãng này sản xuất và đoạt giải Animage Anime Grand Prix cho Phim xuất sắc nhất vào năm 1986. Cái tên Laputa được đặt theo tên của hòn đảo bay Laputa trong tiểu thuyết Những chuyến du hành của Gulliver của Jonathan Swift.
Phim xoay quanh cuộc tìm kiếm Laputa - một hòn đảo hay nói đúng hơn là một lâu đài trôi nổi trên bầu trời của 2 người bạn Pazu và Sheeta. Chiếc vòng cổ nạm viên đá Levistone là chi bảo gia truyền của dòng họ Laputa, một hoàng tộc huyền bí và cổ xưa. Viên đá là chìa khóa và lưu vật cuối cùng minh chứng sự hiện hữu của Laputa. Là người thừa kế cuối cùng còn lại của vương triều này, Sheeta bị truy đuổi bởi đội quân mật vụ do Mushka cầm đầu và băng cướp Dola, nhằm tước đoạt cổ vật Levistone, tìm kiếm bí mật Laputa…..



5: Princess Mononoke (1997)   
Phim lấy bối cảnh những cánh rừng bạt ngàn và bí ẩn xen lẫn nhiều yếu tố kỳ ảo vào cuối thời Muromachi (1392 - 1572), nơi mà súng đạn dần thay thế cho đao kiếm, sự thống trị của các samurai suy yếu đến mức biến họ thành những tên cướp bóc. Vào thời điểm này, người Nhật Bản nói riêng và loài người nói chung đã có ý thức chinh phục, khai phá thiên nhiên bằng sức lực, trí tuệ của mình. Tuy nhiên sự khai thác bừa bãi đã làm thiên nhiên nổi giận, không ít lần giáng tai họa xuống loài người.
Dù là hoạt hình dành cho thiếu nhi, nhưng đối tượng phù hợp nhất của "The princess Mononoke" có lẽ là người lớn và thanh thiếu niên. Vấn đề bộ phim đề cập cũng chính là vấn đề nóng bỏng của mọi thời đại: Bảo vệ môi trường sinh thái.

6: Kiki’s Delivery Service (1989)
Lại một kiệt tác khác được thực hiện bởi hãng Ghibli dưới sự đạo diễn của Hayao Miyazaki. Bộ phim được chuyển thể từ bộ tiểu thuyết cùng tên của Eiko Kadono. Phim đoạt giải Animage Anime Grand Prix cùng năm và phim đầu tiên Studio Ghibli ký hợp đồng phát hành với Disney của Mỹ.
Câu chuyện xoay quanh cô gái phù thủy tập sự vừa bước sang tuổi 13 là Kiki, cô lên thành phố để gặp người bạn thân của mình là Jiji cùng với con mèo của mình bằng cây chổi bay. Kiki đã ở lại thành phố cảng này để luyện tập kỹ năng bay của mình bằng việc mở một cửa hàng thực hiện việc đi giao hàng cũng như với tính cách tốt bụng của mình cô cũng làm những việc có thể để giúp đỡ mọi người trong thành phố.


7: Porco Rosso (1992)
Porco Rosso hay được biết đến là Kurenai no Buta ở Nhật là phim anime thứ sáu do Hayao Miyazaki đạo diễn và sản xuất bởi hãng Ghibli. Cốt truyện lấy bối cảnh Thế chiến thứ nhất, một phi công lái máy bay chiến đấu đã trở thành một người săn tiền thưởng luôn nhằm vào những tên "Cướp biển lái máy bay" tại vùng biển Adriatic. Người phi công này bị một lời nguyền khuôn mặt của ông bị biến thành mặt heo. Ông từng có tên là Marco Pagot nhưng từ khi bị lời nguyền ông có một tên khác được mọi người biết đến là Porco Rosso….

8: Howl’s Moving Castle (2004)   
Howl’s Moving Castle chỉ đứng sau Spirited Away về mặt doanh thu (235 triệu USD) 
Ra mắt năm 2004, Howl’s Moving Castle được giới chuyên môn đánh giá cao và từng được đề cử Oscar cho phim hoạt hình hay nhất năm 2006. Phim có một cốt truyện thú vị, pha trộn giữa yếu tố phiêu lưu và chất kì bí quen thuộc trong các tác phẩm của Ghibli. Đặc biệt, bộ phim còn đề cập đến câu chuyện tình yêu trong sáng, giản dị và cực kì đáng yêu. Do đó, bộ phim rất thích hợp với đối tượng khán giả trẻ em.
Cốt truyện xoay quanh Sophie, một cô thợ làm mũ 18 tuổi và sau đó lời nguyền của mụ phù thủy già biến cô thành một bà lão 90. Ban đầu Sophie rùng mình bởi sự thay đổi này. Tuy nhiên, cô dần chấp nhận điều này như một cách để tự giải phóng mình khỏi lo lắng, sợ hãi và ngại ngùng. Sophie phải đi đến nơi ở của Phù thuỷ Rác để tìm Howl, cầu xin Howl hoá giải lời nguyền….

9: Whisper of the Heart (1995)
“Lời thì thầm của trái tim” là một trong những phim hiếm hoi của Studio Ghibli nói về cuộc sống ở đô thị lớn. Đây là phim của Studio Ghibli được nhiều người yêu thích dù không phải do Hayao Miyazaki hay Takanaka đạo diễn mà là Kondō Yoshifumi, một đạo diễn đủ tài năng để sánh ngang với hai nhà sáng lập xưởng phim.
Bộ phim được mở đầu với giai điệu ngọt ngào của bài hát Country road bằng tiếng Anh. Nhân vật chính của chúng ta là cô bé Shizuku Tsukishima 14 tuổi. Hằng ngày Shizuoka đều đến thư viện mượn sách về để đọc và đây là một công việc rất yêu thích của cô bé. Sau mỗi cuốn sách là một tấm thẻ ghi tên người mượn và trong đó có một cái tên khiến cô rất tò mò: Seiji Amasawa. Và từ đây câu chuyện tình cảm nhẹ nhàng rất dễ thương của hai nhân vật bắt đầu..

10: Nausicaa of the Valley of the Wind (1984)
Không thể kết thúc danh sách này mà không có sự hiện diện của kiệt tác “Nàng công chúa ở thung lũng gió” của Hayao Miyazaki. Tác phẩm này chính là tiền đề cho sự ra đời của hãng Ghibli 1 năm sau đó. Trang IMDb đưa nó vào danh sách “50 phim hoạt hình hay nhất mọi thời đại”.
Hơn 1.000 năm trước, một trận đại hỏa hoạn mang tên “Ngọn lửa 7 ngày” đã hủy diệt phần lớn nền văn minh nhân loại và hệ sinh thái của Trái Đất, chỉ để lại vài quốc gia. Phần lớn bề mặt hành tinh bị bao phủ bởi Biển Thối rữa, nơi sinh sống của những cây nấm to lớn và hàng vạn loài côn trùng khổng lồ, còn đất liền thì bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Nausicaa là công chúa đa tài của Thung lũng Gió, một đất nước thanh bình nằm bên bờ Biển Thối. Nàng sở hữu trí tuệ tương đương các nhà triết học lỗi lạc và khả năng võ thuật không kém gì những võ sĩ siêu đẳng…


Sưu tầm

WALL·E - Người Máy Biết Yêu (2008)

18:41 |
THÔNG TIN PHIM
WALL·E (tựa tiếng Việt: Rôbốt biết yêu hay Người máy biết yêu) là một bộ phim hoạt hình đồ họa vi tính, thể loại khoa học viễn tưởng và lãng mạn, do Pixar Animation Studios sản xuất năm 2008. Bộ phim dựa theo ý tưởng của đạo diễn Andrew Stanton về một Trái Đất đang chết dần trong biển rác; nhân loại đã từng sinh sống trên hành tinh xinh đẹp này phải rời bỏ nó. WALL·E là một chú rôbốt được thiết kế chuyên xử lý rác thải trên Trái Đất. Tình cờ một ngày nọ, WALL·E gặp được rôbốt EVE và nảy sinh tình cảm, chú quyết định theo chân nàng phiêu lưu vào không gian.
Sau phim Finding Nemo, Andrew Stanton cho biết Pixar đã thành công trong phần mô phỏng phần không gian dưới đáy biển và do đó ông muốn bộ phim tiếp theo sẽ mô phỏng không gian vũ trụ. Hầu hết nhân vật trong phim không nói được tiếng người, nhưng thay vào đó chúng có cử chỉ và phát ra những âm thanh đặc trưng cho rôbốt nói chung, phần khó khăn đó do Ben Burtt phụ trách. Ngoài ra, đây là bộ phim đầu mà Pixar thực hiện có những phân đoạn dựa trên động tác thật của diễn viên.
Walt Disney Pictures chính thức khởi chiếu WALL·E tại Mỹ và Canada ngày 27 tháng 06, 2008. Bộ phim đã mang lại doanh thu 23,100,000$ ngay ngày đầu tiên, và 63,000,000$ trong tuần đầu ra mắt tại 3992 rạp chiếu bóng, đứng đầu bảng xếp hạng phim hay. Chính sự ra mắt hoành tráng này đã đẩy bộ phim lên hàng thứ ba về doanh thu phát hành trong tuần đầu của tháng 07 năm 2008. Theo thông lệ của Pixar trong hầu hết bộ phim mới công chiếu, WALL·E có giới thiệu kèm một đoạn phim ngắn mang tên Presto. Trong bản Blu-ray và DVD phát hành kèm một phim ngắn thứ hai tên BURN-E. Trên trang Rotten Tomatoes, WALL·E được xếp hạng cao với 96% sự đồng thuận từ phía các nhà phê bình.

CỐT TRUYỆN
Đầu thế kỷ 22, tập đoàn Buy n Large nắm giữ toàn bộ các hoạt động kinh tế trên thế giới, biến con người lệ thuộc và tuân theo chủ nghĩa hàng hoá, dẫn đến hậu quả Trái Đất phủ đầy rác thải không thể tái chế. Để sửa chữa sai lầm, tập đoàn này vạch ra một kế hoạch sống 5 năm trên một phi thuyền sang trọng cho toàn thể nhân loại, trong khi những con rôbốt tên WALL·E miệt mài thu dọn Trái Đất. Nhưng rồi kế hoạch trên phá sản, con người phải sống mãi trên con tàu Axiom, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ ngày càng mụ mị, lệ thuộc vì không lao động và tất cả các hoạt động được máy tính lập trình.
Thời gian trôi qua, 700 năm sau ngày rời bỏ Trái Đất, các rôbốt đều đã nhận được tính hiệu ngừng hoạt động từ khi kế hoạch phá sản và chỉ còn lại mình WALL·E (vẫn làm việc không biết gì vì bị chạm mạch). Ngày ngày chú chỉ biết thu lượm những thứ linh tinh. Chợt một hôm chú phát hiện được một mầm cây mọc từ một cái ủng cũ, chứng tỏ rằng Trái Đất đang hồi sinh. Sau đó không lâu, tàu mẹ Axiom cử một rôbốt hiện đại tên là EVE trở về Trái Đất thăm dò sự sống. WALL·E đã phải lòng EVE từ cái nhìn đầu tiên nhưng EVE luôn tỏ ra vô cảm. EVE từ từ bị mê hoặc bởi tính cách hồn nhiên, thói lượm vặt của chú rôbốt kia và yêu WALL-E lúc nào không hay. Một hôm, WALL·E đưa cho EVE xem một cái cây và bất ngờ, EVE bất động. WALL·E rất lo lắng và làm mọi cách để phục hổi EVE. Sau đó, WALL·E bám theo con tàu chở EVE lên Axiom. EVE và WALL·E đã giúp vị thuyền trưởng con tàu này chống lại Auto - một rôbốt tự động và cuối cùng họ đã thành công trở về Trái Đất để tái sinh sự sống. Cuối phim, với sức mạnh của tình yêu, EVE đã giúp WALL·E lấy lại được trí nhớ và tình yêu của họ, cho dù WALL·E đã bị hỏng nặng và được thay Motherboard trước đó. Bộ phim thành công bởi dàn diễn viên lồng tiếng nổi tiếng và sự kết hợp tình cảm với công nghệ. Nó được coi là bộ phim hoạt hình bom tấn dành cho trẻ em dịp hè 2008.

CÁC RÔBỐT TRONG PHIM
  • WALL·E (Waste Allocation Load Lifter - Earth Class) - nhân vật chính của phim, là một loại rôbốt chuyên xử lý rác.
  • EVE (Extraterrestrial Vegetation Evaluator) - rôbốt chuyên dò tìm sự sống ở Trái Đất.
  • BIRD-E - rôbốt đánh golf được sử dụng như một vật trợ giúp người chơi golf.
  • BRL-A - rôbốt dù, được thiết kế để che mát cho con người. Một con đã giúp đỡ và sau đó rơi vào những rắc rối của WALL·E.
  • BUF-4 - rôbốt giảm sốc có chức năng làm sạch vào tâm của vệ tinh nhân tạo Axiom.
  • BURN-E - (Basic Utility Repair Nano Engineer) rôbốt sửa chữa, bảo trì Axiom. Vô tình bị nhốt ngoài con tàu Axiom trong khi đang sửa chữa lúc WALL·E và EVE bay vào Axiom.
  • D-FIB - loại rôbốt cung cấp thuốc trợ tim, dù bị hỏng cánh tay nhưng vẫn giúp đỡ WALL·E.
  • FIL-R - loại rôbốt chứa nước được tạo ra để giải quyết nhu cầu nước cho những con bốt và thiết bị.
  • FIX-IT - con rôbốt sửa chữa có ý định thâu chiếm quyền kiểm soát chung của vệ tinh Axiom.
  • GO-4 - (Autopilot) con rôbốt do tập đoàn Buy n Large tạo ra để khống chế con người, nó quyết tâm kiểm soát vệ tinh nhân tạo Axiom và cướp lấy cây con do WALL·E mang về. Nhưng rồi con rôbốt này đã bị tiêu diệt trong lần giằng co với thuyền trưởng.
  • GRAB-E - rôbốt cánh tay, có chức năng xếp dỡ hàng hoá.
  • HAN-S - loại rôbốt massage được thiết kế với nhiệm vụ chủ yếu là xoa bóp cho con người. Một con đã rất nhiệt tình giúp đỡ và kết thân với WALL·E.
  • L-T - rôbốt chiếu sáng, nhiệm vụ là duy trì nguồn sáng trên vệ tinh nhân tạo Axiom. Nhưng có một con thích chơi trong bóng tối và đã kết bạn với WALL·E.
  • NAN-E - rôbốt trông trẻ có nhiệm vụ giáo dục và chăm sóc trẻ em Axiom.
  • POW-R - rôbốt chuyên sửa chữa những hỏng hóc điện trên Axiom.
  • PR-T - loài rôbốt chăm sóc sắc đẹp cho các quý ông. Một con đã phản kháng bằng cách trang điểm diêm dúa cho bất kì vật gì nó gặp, con này cũng kết thân với WALL·E.
  • REM-E - loài rôbốt chuột được phát hiện ở những tầng hầm và ngỏ ngách của Axiom'.
  • SAUT-A - rôbốt đầu bếp chuyên cung cấp thức ăn cho khách đói.
  • SECUR-T - rôbốt quản lý an ninh trên Axiom, chỉ tuân lệnh của thuyền trưởng Auto.
  • SERV-A - hệ thống vận chuyển công cộng có thể mang những loài rôbốt khác và các vật dụng từ nơi này đến nơi khác rất nhanh.
  • SPR-A - rôbốt khử trùng, đã làm sạch EVE sau chuyến đi từ Trái Đất.
  • SR-V - rôbốt dùng làm người phục vụ cho các du khách.
  • THIRST-E - rôbốt pha chế được sản xuất để thoả mãn nhu cầu nước uống cho bất kì công dân nào.
  • TYP-E - rôbốt đánh máy và canh gác thang máy trên vệ tin Axiom. WALL·E đã dạy nó cách vẫy tay chào người khác.
  • VAQ-M - rôbốt hút bụi và dọn dẹp vệ sinh. Một con đã mắc bệnh hắt hơi và kết thân với WALL·E.
  • VEND-R - rôbốt sản xuất thức ăn dạng lỏng, có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của các thực khách, những người không bao giờ rời khỏi ghế bay.
  • VN-GO - rôbốt hoạ sĩ, được thiết kế để trang trí nội thất bề mặt vệ tinh Axiom. Một con đã kết thân với WALL·E. Cái tên của loài rôbốt này đặt theo tên của Vincent van Gogh.
  • WALL-A - (Waste Allocation Load Lifter Axiom-Class). Rôbốt nghiền rác thải cỡ lớn, cùng họ hàng với WALL·E, nhưng con này làm việc ở tầng hầm của Axiom.
  • M-O (Microbe Obliterator) - rôbốt dọn dẹp, đuổi theo WALL-E để làm sạch cho cậu ta và kết thân với cậu.
  • AUTO - rôbốt điều khiển tự động vệ tinh Axiom đã bị ngắt nguồn bởi cơ trưởng khi đang cố gắng đóng máy quét toàn phần.

General
Unique ID : 247219572682730545092686530978886410917 (0xB9FCC1FE514ECCB18E70985CF86362A5)
Complete name : Wall-E (2008) BluRay [1080p] {5.1} by Mr.Bin.mkv
Format : Matroska
Format version : Version 4 / Version 2
File size : 1.84 GiB
Duration : 1h 38mn
Overall bit rate : 2 675 Kbps
Movie name : Wall-E (2008) Encode by Mr.Bin
Encoded date : UTC 2014-10-09 21:20:47
Writing application : mkvmerge v7.0.0 ('Where We Going') 32bit built on Jun 9 2014 15:08:34
Writing library : libebml v1.3.0 + libmatroska v1.4.1
DURATION : 01:29:29.340000000
NUMBER_OF_FRAMES : 710
NUMBER_OF_BYTES : 21187
_STATISTICS_WRITING_APP : mkvmerge v7.0.0 ('Where We Going') 32bit built on Jun 9 2014 15:08:34
_STATISTICS_WRITING_DATE_UTC : 2014-10-09 21:20:47
_STATISTICS_TAGS : BPS DURATION NUMBER_OF_FRAMES NUMBER_OF_BYTES

Video
ID : 1
Format : AVC
Format/Info : Advanced Video Codec
Format profile : High@L4.0
Format settings, CABAC : Yes
Format settings, ReFrames : 4 frames
Codec ID : V_MPEG4/ISO/AVC
Duration : 1h 38mn
Nominal bit rate : 2 231 Kbps
Width : 1 920 pixels
Height : 800 pixels
Display aspect ratio : 2.40:1
Frame rate mode : Constant
Frame rate : 23.976 fps
Color space : YUV
Chroma subsampling : 4:2:0
Bit depth : 8 bits
Scan type : Progressive
Bits/(Pixel*Frame) : 0.061
Title : Wall-E (h264 high L4.0 ,yuv420p, 1920x800, English)
Writing library : x264 core 128 r2216 198a7ea
Encoding settings : cabac=1 / ref=3 / deblock=1:1:1 / analyse=0x3:0x133 / me=umh / subme=10 / psy=1 / psy_rd=0.40:0.00 / mixed_ref=1 / me_range=24 / chroma_me=1 / trellis=2 / 8x8dct=1 / cqm=0 / deadzone=21,11 / fast_pskip=1 / chroma_qp_offset=-2 / threads=18 / lookahead_threads=3 / sliced_threads=0 / nr=0 / decimate=1 / interlaced=0 / bluray_compat=0 / constrained_intra=0 / bframes=3 / b_pyramid=2 / b_adapt=2 / b_bias=0 / direct=3 / weightb=1 / open_gop=0 / weightp=2 / keyint=250 / keyint_min=23 / scenecut=40 / intra_refresh=0 / rc_lookahead=60 / rc=2pass / mbtree=1 / bitrate=2231 / ratetol=1.0 / qcomp=0.60 / qpmin=0 / qpmax=69 / qpstep=4 / cplxblur=20.0 / qblur=0.5 / vbv_maxrate=25000 / vbv_bufsize=25000 / nal_hrd=none / ip_ratio=1.40 / aq=1:0.60
Language : English
Default : Yes
Forced : No

Audio #1
ID : 2
Format : AAC
Format/Info : Advanced Audio Codec
Format profile : HE-AAC / LC
Codec ID : A_AAC
Duration : 1h 38mn
Channel(s) : 6 channels
Channel positions : Front: L C R, Side: L R, LFE
Sampling rate : 48.0 KHz / 24.0 KHz
Compression mode : Lossy
Title : Wall-E (aac, 48000 Hz, 5.1, English)
Language : English
Default : No
Forced : No

Audio #2
ID : 3
Format : AAC
Format/Info : Advanced Audio Codec
Format profile : HE-AAC / LC
Codec ID : A_AAC
Duration : 1h 38mn
Channel(s) : 2 channels
Channel positions : Front: L R
Sampling rate : 48.0 KHz / 24.0 KHz
Compression mode : Lossy
Title : Wall-E (aac, 48000 Hz, stereo, English)
Language : English
Default : No
Forced : No

Audio #3
ID : 4
Format : AAC
Format/Info : Advanced Audio Codec
Format profile : LC
Codec ID : A_AAC
Duration : 1h 38mn
Channel(s) : 2 channels
Channel positions : Front: L R
Sampling rate : 44.1 KHz
Compression mode : Lossy
Title : Wall-E (aac, 44100 Hz, stereo, Tiếng Việt)
Language : Vietnamese
Default : No
Forced : No

Text #1
ID : 5
Format : UTF-8
Codec ID : S_TEXT/UTF8
Codec ID/Info : UTF-8 Plain Text
Title : Wall-E (subrip, Tiếng Việt)
Language : Vietnamese
Default : Yes
Forced : No

Text #2
ID : 6
Format : UTF-8
Codec ID : S_TEXT/UTF8
Codec ID/Info : UTF-8 Plain Text
Title : Wall-E (subrip, English)
Language : English
Default : No
Forced : No

Menu
00:00:00.000 : en:00:00:00.000
00:03:36.299 : en:00:03:36.299
00:05:49.683 : en:00:05:49.683
00:09:18.766 : en:00:09:18.766
00:12:03.431 : en:00:12:03.431
00:17:56.450 : en:00:17:56.450
00:19:33.380 : en:00:19:33.380
00:21:10.144 : en:00:21:10.144
00:23:46.800 : en:00:23:46.800
00:29:18.006 : en:00:29:18.006
00:31:25.091 : en:00:31:25.091
00:33:27.756 : en:00:33:27.756
00:35:20.118 : en:00:35:20.118
00:38:49.535 : en:00:38:49.535
00:42:53.529 : en:00:42:53.529
00:43:31.651 : en:00:43:31.651
00:51:08.941 : en:00:51:08.941
00:52:07.583 : en:00:52:07.583
00:54:47.451 : en:00:54:47.451
00:56:05.779 : en:00:56:05.779
00:57:58.016 : en:00:57:58.016
00:58:41.184 : en:00:58:41.184
01:02:14.898 : en:01:02:14.898
01:03:21.047 : en:01:03:21.047
01:05:49.695 : en:01:05:49.695
01:11:44.884 : en:01:11:44.884
01:15:54.216 : en:01:15:54.216
01:19:22.799 : en:01:19:22.799
01:20:14.684 : en:01:20:14.684
01:24:14.090 : en:01:24:14.090
01:25:45.765 : en:01:25:45.765
01:30:17.495 : en:01:30:17.495
 Xem Phim Online


Vút Bay - Up (2009)

08:10 |

THÔNG TIN PHIM

Đạo diễn
Pete Docter
Bob Peterson
Công chiếu
29 tháng 5, 2009
Sản xuất
Jonas Rivera
John Lasseter
Andrew Stanton
Độ dài
96 phút
Tác giả
Bob Peterson
Pete Docter
Thomas McCarthy
Quốc gia
Hoa Kỳ
Diễn viên
Edward Asner
Christopher Plummer
Jordan Nagai
Bob Peterson
Ngôn ngữ
Tiếng Anh
Âm nhạc
Michael Giacchino
Kinh phí
175 triệu USD
Hãng sản xuất
Pixar Animation Studios
Doanh thu
>723.005.700 USD
Phát hành
Walt Disney Pictures



Vút bay (tựa gốc tiếng Anh: Up) là một bộ phim hoạt hình máy tính được Pixar Animation Studios sản xuất và Walt Disney Pictures phát hành. Bộ phim ra mắt khán giả vào ngày 9 tháng 5 năm 2009 tại Bắc Mỹ và là phim hoạt hình đầu tiên khai mạc Liên hoan phim Cannes 2009. Bộ phim ra mắt khán giả tại Anh vào ngày 9 tháng 10 năm 2009.
Vút bay là bộ phim dài thứ nhì của đạo diễn Pete Docter, sau bộ phim Monsters, Inc., và có sự tham gia lồng tiếng của các diễn viên Edward Asner, Christopher Plummer, Bob Peterson, và Jordan Nagai. Đây là bộ phim thời lượng dài thứ 10 của Pixar và là bộ phim đầu tiên được chiếu bằng kỹ thuật Disney Digital 3D .Bộ phim cũng được trình chiếu với công nghệ Dolby 3D trong một số rạp.

Câu chuyện của bộ phim xoay quanh một ông lão goá vợ tên Carl Fredricksen và một cậu bé "nhà thám hiểm hoang dã" tên là Russell. Họ bay đến Nam Mỹ trong một căn nhà được kéo lên không trung bằng bong bóng. Bộ phim được hầu hết giới phê bình đánh giá cao với tỷ lệ 98% tại Rotten Tomatoes (bộ phim có tỷ lệ khen thưởng cao nhất năm 2009 tại trang web này), và đã đạt doanh thu trên 723 triệu USD toàn cầu, trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ nhì của Pixar, chỉ sau Finding Nemo.
Vút bay đã giành Giải Quả cầu vàng cho phim hoạt hình hay nhất và nhạc phim gốc hay nhất của Hiệp hội báo chí nước ngoài tại Hollywood. Gần đây hơn, bộ phim cũng đã nhận 5 đề cử cho Giải Oscar, kể cả cho phim xuất sắc nhất, trở thành bộ phim hoạt hình thứ nhì trong lịch sử nhận đề cử cho giải này, chỉ sau phim Người đẹp và ác thú trong năm 1991.Nó cũng được đề cử cho giải phim hoạt hình hay nhất.

NỘI DUNG PHIM


Qua một bộ phim tài liệu, khán giả được biết đến nhà thám hiểm nổi tiếng Charles F. Muntz (Christopher Plummer), người đã thám hiểm thế giới bằng khinh khí cầu khổng lồ của ông với tên "The Spirit of Adventure". Trong chuyến du hành táo bạo nhất của mình, ông trở về từ Nam Mỹ với một bộ xương của một sinh vật lớn và chưa nhận dạng được. Các nhà khoa học hoài nghi và cho rằng đây là một mẫu vật giả, và từ đó Muntz tự lưu vong. Muntz thề rằng ông sẽ không trở về cho đến khi tìm được bằng chứng.


Carl Fredricksen (Jeremy Leary), một cậu bé nhút nhát, ít nói và từ lâu đã ngưỡng mộ Muntz, cũng bị sốc, nhưng tin tưởng rằng Muntz sẽ trở về và chứng minh mình là đúng. Một ngày, Carl kết bạn với một cô gái tinh nghịch và đầy nghị lực tên là Ellie (Elizabeth Docter), một người hâm mộ Muntz. Cô viết giấc mơ của mình vào sổ lưu niệm cá nhân, cho Carl biết rằng cô muốn di chuyển căn nhà câu lạc bộ đến Thác Paradise - một thác nước vách đá hùng vĩ ở Nam Mỹ, và kêu gọi cậu hãy hứa sẽ giúp cô. Trong đoạn phim ngắn kế tiếp, khán giả chứng kiến Carl và Ellie trưởng thành, kết hôn, và sống đến bạc đầu trong căn nhà cũ mà họ đã gặp nhau đầu tiên, với Carl làm việc như một người bán bong bóng đồ chơi trong khi Ellie làm nhân viên sở thú. Họ không thể có con, và luôn tiết kiệm để có đủ tiền du lịch đến Thác Paradise, nhưng luôn gặp những vướng bận về tài chính khác. Cuối cùng, khi họ có thể thực hiện chuyến đi được, thì Ellie qua đời do tuổi già, Carl trở thành một người góa vợ cô đơn và cay đắng với cuộc đời vắng bóng bà vợ yêu quí.


Nhiều năm sau, Carl (Edward Asner) bây giờ là một người cao tuổi, sống một mình trong căn nhà đó - nhưng bây giờ đang nằm giữa một trung tâm đô thị mới. Không muốn di chuyển, cuối cùng Carl đã xô xát với một công nhân xây dựng về hộp thư bị hư của mình, và buộc phải theo lệnh tòa án đến ở tại một nơi dành cho người nghỉ hưu. Ông lập ra một kế để giữ lời hứa với Ellie: biến căn nhà của mình thành một khinh khí cầu tạm, sử dụng hàng vạn bong bóng bay để nâng nó ra khỏi nền móng. Russell (Jordan Nagai), một "Nhà thám hiểm Hoang dã" (Hướng đạo sinh) đang cố gắng lấy chuyên hiệu cuối cùng trong môn "Giúp đỡ người già", cũng trốn theo trên cái cổng vòm trước cửa nhà sau khi đã bị Carl lừa và sai bảo đi bắt con chim "snipe" (một loài chim cực kỳ khó bắt được).


Sau khi bị kẹt trong một trận bão, họ hạ cánh gần một khe núi lớn đối diện với Thác Paradise. Họ dùng trọng lượng thân thể làm chấn lưu (để kéo căn nhà nổi) và đi lại xung quanh khe núi, với hy vọng rằng họ sẽ đến được thác nước trước khi các bong bóng xì hơi. Họ gặp một con chim không bay to lớn và đầy màu sắc mà Russell đặt tên là Kevin (Pete Docter) (mặc dù đây là một con chim cái), và một con chó tên Dug (Bob Peterson) đeo một vòng cổ đặc biệt cho phép nó có thể nói được. Dug là thành viên có địa vị thấp nhất trong một đàn chó rất thông minh của Charles Muntz. Muntz, vì chưa tìm được mẫu vật còn sống của con vật mà xưa kia bị cho là giả tạo, vẫn còn sống trong lưu vong. Vẫn tin tưởng rằng ông và các con chó của mình sẽ tìm được con thú ấy, Muntz đã huấn luyện các con chó như một đội quân đầy tớ.


Muntz mời Carl và Russell vào khinh khí cầu khổng lồ của mình. Lúc đầu Carl rất vui mừng được gặp mặt thần tượng thời thơ ấu, nhưng sau đó nhận thấy rằng Muntz có một khía cạnh đen tối hơn. Khi Muntz biết được về "Kevin", Carl nhận thấy Muntz đang tìm cách bắt nó, và đã giết những nhà thám hiểm trước đó mà ông tin tưởng đã làm chướng ngại. Carl, Russell, Dug, và Kevin chạy trốn từ đội quân chó của Muntz, nhưng Kevin đã bị thương trong lúc chạy trốn. Khi mọi người đưa Kevin về với các con, Muntz và bầy chó cũng đến (do có thiết bị theo dõi trong vòng cổ của Dug) và đốt lửa dưới căn nhà của Carl, buộc Carl phải bỏ Kevin để chữa cháy; Muntz bắt được con chim và bỏ đi. Carl cuối cùng đưa căn nhà đến thác nước (đúng như lời đã hứa với người vợ) và các bong bóng cũng đã xì hơi. Buồn bã vì Carl đã bỏ Kevin để cứu căn nhà và tin rằng mình có thể cứu được con chim đó, Russell đã gắn bong bóng của Carl vào mình và dùng một máy thổi lá để đi tìm khinh khí cầu của Muntz.


Ngồi trong căn nhà của mình, Carl buồn bã mở ra quyển lưu niệm từ niên thiếu của Ellie, và bất ngờ tìm được những hình ảnh trong cuộc sống chung của họ trong những trang trước kia còn trống, và một lời ghi cuối từ Ellie, cảm ơn ông cho "cuộc phiêu lưu", và động viên ông hãy đi tìm một "cuộc phiêu lưu mới". Hớn hở, ông ra ngoài để tìm Russell, nhưng chỉ thấy cậu bé đã bay xa. Carl giảm nhẹ trọng lượng của căn nhà bằng cách vứt đi những đồ nội thất cũ và những vật dụng có kỷ niệm tình cảm khác, và đuổi theo Russell. Russell cuối cùng bị bắt, nhưng Carl đến kịp lúc để cứu cậu bé và thả Kevin. Muntz rượt đuổi theo họ trong khinh khí cầu cho đến khi ông dồn họ vào căn nhà với một khẩu súng săn trong khi Carl cố gắng giữ thăng bằng. Một khi Muntz vào được, Carl dụ Kevin ra ngoài cửa sổ bằng một thanh kẹo sô-cô-la trong lúc Dug và Russell ôm theo. Muntz nhảy ra theo, nhưng chỉ chụp được dây bong bóng và rơi xuống chết. Không còn dây giữ, căn nhà rơi xuống, nhưng Carl không quan tâm nữa.


Carl dùng khinh khí cầu của Muntz và đưa Kevin về với các con, rồi chở Russell và Dug về lại thành phố. Khi cha của Russell không tham dự lễ lên cấp cho con, Carl thực hiện vai trò đó và hãnh điện gắn chuyên hiệu cuối cùng cho Russell: là một cái nắp chai mà Ellie đã đưa cho Carl khi họ vừa gặp mặt - "Chuyên hiệu Ellie". Russell coi Carl như người cha, trong khi Dug - nay có địa vị cao nhất trong bầy chó của Muntz - coi Carl như chủ nhân mới. Khi cả ba bắt đầu những cuộc phiêu lưu mới, khán giả nhìn thấy căn nhà đã rơi đúng chỗ, ngay tại Thác Paradise.


General
Unique ID : 233964070224998219002561351365013759454 (0xB003D743A1519C39919E28B6897B65DE)
Complete name : UP (2009) BluRay [1080p] {5.1} by Mr.Bin.mkv
Format : Matroska
Format version : Version 4 / Version 2
File size : 1.75 GiB
Duration : 1h 36mn
Overall bit rate : 2 588 Kbps
Movie name : UP (2009) Encode by Mr.Bin
Encoded date : UTC 2014-10-09 21:32:39
Writing application : mkvmerge v7.0.0 ('Where We Going') 32bit built on Jun 9 2014 15:08:34
Writing library : libebml v1.3.0 + libmatroska v1.4.1
DURATION : 01:36:07.680000000
NUMBER_OF_FRAMES : 135180
NUMBER_OF_BYTES : 60094005
_STATISTICS_WRITING_APP : mkvmerge v7.0.0 ('Where We Going') 32bit built on Jun 9 2014 15:08:34
_STATISTICS_WRITING_DATE_UTC : 2014-10-09 21:32:39
_STATISTICS_TAGS : BPS DURATION NUMBER_OF_FRAMES NUMBER_OF_BYTES

Video
ID : 1
Format : AVC
Format/Info : Advanced Video Codec
Format profile : High@L4.0
Format settings, CABAC : Yes
Format settings, ReFrames : 4 frames
Codec ID : V_MPEG4/ISO/AVC
Duration : 1h 36mn
Nominal bit rate : 2 238 Kbps
Width : 1 920 pixels
Height : 1 080 pixels
Display aspect ratio : 16:9
Frame rate mode : Constant
Frame rate : 23.976 fps
Color space : YUV
Chroma subsampling : 4:2:0
Bit depth : 8 bits
Scan type : Progressive
Bits/(Pixel*Frame) : 0.045
Title : UP (h264 high L4.0 ,yuv420p, 1920x1080, English)
Writing library : x264 core 128 r2216 198a7ea
Encoding settings : cabac=1 / ref=3 / deblock=1:1:1 / analyse=0x3:0x133 / me=umh / subme=10 / psy=1 / psy_rd=0.40:0.00 / mixed_ref=1 / me_range=24 / chroma_me=1 / trellis=2 / 8x8dct=1 / cqm=0 / deadzone=21,11 / fast_pskip=1 / chroma_qp_offset=-2 / threads=18 / lookahead_threads=3 / sliced_threads=0 / nr=0 / decimate=1 / interlaced=0 / bluray_compat=0 / constrained_intra=0 / bframes=3 / b_pyramid=2 / b_adapt=2 / b_bias=0 / direct=3 / weightb=1 / open_gop=0 / weightp=2 / keyint=250 / keyint_min=23 / scenecut=40 / intra_refresh=0 / rc_lookahead=60 / rc=2pass / mbtree=1 / bitrate=2238 / ratetol=1.0 / qcomp=0.60 / qpmin=0 / qpmax=69 / qpstep=4 / cplxblur=20.0 / qblur=0.5 / vbv_maxrate=25000 / vbv_bufsize=25000 / nal_hrd=none / ip_ratio=1.40 / aq=1:0.60
Language : English
Default : Yes
Forced : No

Audio #1
ID : 2
Format : AAC
Format/Info : Advanced Audio Codec
Format profile : HE-AAC / LC
Codec ID : A_AAC
Duration : 1h 36mn
Channel(s) : 6 channels
Channel positions : Front: L C R, Side: L R, LFE
Sampling rate : 48.0 KHz / 24.0 KHz
Compression mode : Lossy
Title : UP (aac, 48000 Hz, 5.1, English)
Language : English
Default : No
Forced : No

Audio #2
ID : 3
Format : AAC
Format/Info : Advanced Audio Codec
Format profile : HE-AAC / LC
Codec ID : A_AAC
Duration : 1h 36mn
Channel(s) : 2 channels
Channel positions : Front: L R
Sampling rate : 48.0 KHz / 24.0 KHz
Compression mode : Lossy
Title : UP (aac, 48000 Hz, stereo, English)
Language : English
Default : No
Forced : No

Audio #3
ID : 4
Format : MPEG Audio
Format version : Version 1
Format profile : Layer 2
Codec ID : A_MPEG/L2
Codec ID/Hint : MP2
Duration : 1h 36mn
Bit rate mode : Constant
Bit rate : 64.0 Kbps
Channel(s) : 2 channels
Sampling rate : 48.0 KHz
Compression mode : Lossy
Stream size : 44.2 MiB (2%)
Title : UP (mp2, 48000 Hz, stereo, 64 kb/s, Tiếng Việt)
Language : Vietnamese
Default : No
Forced : No

Text #1
ID : 5
Format : UTF-8
Codec ID : S_TEXT/UTF8
Codec ID/Info : UTF-8 Plain Text
Title : UP (subrip, Tiếng Việt)
Language : Vietnamese
Default : Yes
Forced : No

Text #2
ID : 6
Format : UTF-8
Codec ID : S_TEXT/UTF8
Codec ID/Info : UTF-8 Plain Text
Title : UP (subrip, English)
Language : English
Default : No
Forced : No

Menu
00:00:00.000 : en:00:00:00.000
00:02:39.409 : en:00:02:39.409
00:07:14.184 : en:00:07:14.184
00:11:37.488 : en:00:11:37.488
00:13:33.479 : en:00:13:33.479
00:15:22.088 : en:00:15:22.088
00:17:35.888 : en:00:17:35.888
00:20:25.140 : en:00:20:25.140
00:24:31.303 : en:00:24:31.303
00:26:23.790 : en:00:26:23.790
00:28:02.556 : en:00:28:02.556
00:29:40.237 : en:00:29:40.237
00:33:20.165 : en:00:33:20.165
00:34:20.391 : en:00:34:20.391
00:35:14.487 : en:00:35:14.487
00:39:49.512 : en:00:39:49.512
00:42:34.844 : en:00:42:34.844
00:44:41.178 : en:00:44:41.178
00:46:17.233 : en:00:46:17.233
00:49:19.123 : en:00:49:19.123
00:52:20.929 : en:00:52:20.929
00:55:23.987 : en:00:55:23.987
01:00:33.546 : en:01:00:33.546
01:04:19.188 : en:01:04:19.188
01:06:14.303 : en:01:06:14.303
01:08:58.009 : en:01:08:58.009
01:10:20.716 : en:01:10:20.716
01:13:35.327 : en:01:13:35.327
01:15:24.353 : en:01:15:24.353
01:17:52.751 : en:01:17:52.751
01:19:45.864 : en:01:19:45.864
01:21:53.867 : en:01:21:53.867
01:23:23.290 : en:01:23:23.290
01:26:02.657 : en:01:26:02.657
01:29:02.420 : en:01:29:02.420
Xem phim Vút Bay Online